Kể từ sau lần đội trưởng đặc chiến cúp máy cuộc gọi cầu cứu của vợ ngay tại tiền tuyến chiến khu, vợ anh giống như đã trở thành một người hoàn toàn khác.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh báo với cô rằng mình bình an, cô không còn hỏi anh có b/ị th/ư/ơ/ng hay không nữa, chỉ hờ hững đáp một tiếng: “Ừ.”
Anh mang chiếc áo huấn luyện tác chiến cô đã vá đến 4 lần đưa cho cô đàn em mới tới, cô cũng chỉ đáp lại: “Ồ.”
Anh ở lại cùng cô đàn em kiểm tra lại chiến thuật nên trở về nhà muộn, sau đó còn nói thức ăn cô đã hâm lại 3 lần giờ đã nguội.
Cô chỉ lặng lẽ đứng lên, đem toàn bộ thức ăn đổ đi.
Lục Kỳ Phong cuối cùng cũng nhận ra có gì đó không đúng, anh nhíu mày hỏi tôi:
“Em lại làm sao nữa?”
Nước chảy cuốn theo lớp dầu mỡ nổi phía trên, tiếng ào ào vang lên đơn điệu.
Tôi quay lưng về phía anh, không hề ngoảnh lại:
“Không sao.”
Chỉ là từ hôm nay, tôi sẽ không chờ nữa.
Sáng hôm sau, khi Lục Kỳ Phong chuẩn bị ra ngoài, anh phát hiện chiếc đèn cảm ứng trước cửa không sáng.
Anh cúi xuống thay giày tác chiến, tiện miệng hỏi: “Hỏng rồi à?”
Tôi ngồi trước bàn ăn, phết bơ đậu phộng lên bánh mì: “Không hỏng, em tắt rồi.”
Tay đang buộc dây giày của anh dừng lại: “Trước kia chẳng phải em nói để anh về ban đêm cho tiện sao?”
“Anh dùng đèn pin chiến thuật đi.”
Lục Kỳ Phong ngẩng lên nhìn tôi. Giọng anh vẫn bình thản, gương mặt cũng giữ nguyên vẻ trầm ổn lạnh lùng như trước.
Trong quân khu, mọi người đều nói đội trưởng Lục gặp chuyện lúc nào cũng điềm tĩnh ung dung. Nhưng mỗi lần đối diện với tôi, chút kiên nhẫn ít ỏi còn sót lại của anh lại mỏng đến mức chỉ như một lớp giấy cửa sổ.
“Vẫn còn giận chuyện hôm qua à?”
Tôi đặt miếng bánh mì đã phết bơ đậu phộng vào đĩa: “Không.”
Anh đứng lên, giọng nói mang theo kiểu cứng rắn không cho phép nghi ngờ của một quân nhân:
“Ninh Sương, anh không thích ch/iế/n tr/a/nh lạnh.”
“Nếu em có gì bất mãn thì nói thẳng, đừng dùng cách này bắt anh phải đoán.”
“Em nói rồi.”
“Em nói gì?”
Tôi nhìn thẳng vào mắt anh:
“Em đã gọi điện cầu cứu anh khi đang ở tiền tuyến chiến khu.”
Lục Kỳ Phong im lặng 3 giây:
“Anh đã nghe máy.”
“Nhưng anh cũng cúp máy.”
“Lúc đó có rất nhiều người dân ở vùng chiến sự đang chờ được cứu viện, anh không thể vì một cuộc điện thoại của em mà khiến toàn bộ kế hoạch bị xáo trộn.”
Lời này nghe vô cùng có lý, có lý đến mức ngay cả khi tôi lên tiếng phản bác, người khác cũng sẽ cảm thấy tôi đang cố tình kiếm chuyện vô cớ.
Tôi cúi đầu uống một ngụm sữa: “Ừ, anh không sai.”
Có vẻ câu nói của tôi khiến anh không biết phải đáp thế nào. Một lúc lâu sau, anh mới lên tiếng:
“Tối nay trong đội có cuộc họp tổng kết chiến thuật, người nhà có thể tham dự.”
“Nếu em để ý chuyện của Tô Vãn thì cứ đi cùng xem thử, đừng ở nhà một mình rồi tự suy nghĩ lung tung.”
Đó chính là sự bố thí.
Trước đây tôi từng năn nỉ muốn tham gia những hoạt động trong đội của anh, nhưng anh lúc nào cũng nói đó là chuyện cơ mật, lại nguy hiểm, em không hiểu những thứ này.
Bây giờ anh cho tôi đi, chẳng qua chỉ muốn chứng minh rằng tôi là người nhỏ nhen, hay ghen mà thôi.
“Được.”
Lục Kỳ Phong hơi ngạc nhiên: “Đến lúc đó đừng bày sắc mặt khó chịu với anh, trong đội toàn là đồng đội.”
Tôi gật đầu: “Ừ.”
7 giờ tối, tôi đến đại đội đặc chiến.
Đèn pha trên sân huấn luyện sáng rực như ban ngày, vài đội viên đang lau chùi v/ũ kh/í.
Tô Vãn đứng bên cạnh Lục Kỳ Phong, trên người là bộ quân phục huấn luyện tác chiến hoàn toàn mới. Mái tóc được buộc cao gọn gàng thành đuôi ngựa, trên mặt vẫn còn vương một chút màu ngụy trang chưa lau sạch.
Vừa nhìn thấy tôi, cô ta lập tức chạy tới:
“Chị dâu, chị đến rồi!”
Giọng cô ta trong trẻo:
“Hôm qua thật sự xin lỗi chị, đó là lần đầu em tham gia nhiệm vụ thực chiến, em sợ lắm.”
“Anh Kỳ Phong chăm sóc em cũng chỉ vì em là người mới, chị nhất định đừng hiểu lầm.”
Cô ta vừa mở miệng đã gọi “anh Kỳ Phong”, khiến mấy đội viên xung quanh không nhịn được cười.
“Tô Vãn, cô gọi nghe thuận miệng quá nhỉ.”
“Đúng đấy, chị dâu còn đứng đây mà.”
Tô Vãn hơi đỏ mặt, cúi đầu giải thích: “Em quen miệng rồi.”
Lục Kỳ Phong không hề sửa cách xưng hô của cô ta, chỉ liếc nhìn tôi một cái:
“Vào trong đi.”
Cuộc họp tổng kết diễn ra trong phòng tác chiến. Trên màn hình đang trình chiếu bản đồ địa hình của chiến khu.
Lục Kỳ Phong đứng trước màn hình, giọng nói trầm ổn, lần lượt bố trí tuyến đột kích cùng các vị trí yểm trợ, mọi thứ được trình bày rõ ràng đâu ra đấy.
Tôi ngồi ở hàng ghế cuối, nhìn bóng lưng anh.
Anh từng là toàn bộ niềm kiêu hãnh của tôi, nhưng hôm nay, tôi chỉ thấy anh xa lạ đến mức khó tả.
Đến lượt Tô Vãn phát biểu, cô ta đứng dậy, những ngón tay căng thẳng siết lấy vạt áo tác chiến.
“Khi đó em ở khu vực số 3, h/ỏ/a l/ự/c quá mạnh, thật sự em hơi hoảng.”
“Là đội trưởng Lục vẫn luôn trấn an em qua bộ đàm, bảo em cứ làm theo chỉ thị của anh ấy.”
Cô ta dừng lại một chút, sau đó nhìn về phía tôi:
“Sau đó em mới biết lúc ấy chị dâu cũng ở gần đó và bị đ/ạ/n lạc sượt qua.”
“Chị dâu chắc chắn mạnh mẽ hơn em nhiều, không vô dụng như em.”
Cả phòng tác chiến lập tức rơi vào im lặng.
Nghe qua giống như cô ta đang xin lỗi, nhưng từng chữ lại như đang nhắc nhở tất cả mọi người rằng:
Trong khoảnh khắc s/ố/ng ch/ế/t, người mà Lục Kỳ Phong quan tâm lại chính là cô ta.
Tôi đặt chiếc cốc giấy trong tay xuống:
“Tôi không mạnh mẽ, tôi cũng sợ.”
Tô Vãn ngẩn người.
Lục Kỳ Phong nhíu mày:
“Ninh Sương.”
Tôi nhìn anh:
“Sao vậy, đến tư cách sợ hãi em cũng không có sao?”
Anh hạ giọng, trong lời nói mang theo khẩu khí ra lệnh:
“Đây là cuộc họp tổng kết chiến thuật, không phải chỗ để em trút cảm xúc.”
Người bên cạnh lập tức lên tiếng giảng hòa:
“Chị dâu cũng vừa trải qua một phen hoảng sợ, đội trưởng Lục, anh đừng nghiêm túc quá.”
Hốc mắt Tô Vãn lập tức đỏ lên:
“Chị dâu, xin lỗi chị, tất cả đều là lỗi của em.”
“Em không nên khiến đội trưởng Lục phân tâm, nếu không phải vì em, đội trưởng Lục nhất định đã lập tức đi tìm chị.”
Sắc mặt Lục Kỳ Phong tối xuống:
“Đủ rồi.”
Hai chữ ấy là anh nói với tôi.
Tôi đột nhiên bật cười:
“Em đã nói gì sao?”
Lục Kỳ Phong nhìn tôi, đáy mắt hiện rõ sự không vui:
“Tô Vãn đã xin lỗi rồi, em còn muốn thế nào nữa?”
Tôi đứng dậy:
“Không muốn thế nào cả.”
Tôi xách túi, quay người đi ra ngoài.
Phía sau vang lên giọng nói nghẹn ngào của Tô Vãn:
“Anh Kỳ Phong, anh đừng trách chị dâu, là em không nên đến đội làm phiền anh.”
Lục Kỳ Phong không đuổi theo tôi.
Tôi đi tới bên cạnh sân huấn luyện, gió đêm từ cổng lớn thổi vào.
Chuông điện tử ngoài cổng vang lên một tiếng.
Có đội viên trở về, hệ thống lập tức phát thông báo:
“Chào mừng trở về đội.”
Tôi đứng đó, bất chợt nhớ tới tiếng chuông cửa ở nhà.
Trước kia, mỗi lần nghe tiếng người trở về, tôi đều lập tức đứng dậy khỏi sofa.
Bây giờ lại chỉ thấy âm thanh ấy quá mức ồn ào.
Không phải vì nó vang lên, mà vì nó cứ lặp đi lặp lại nhắc nhở tôi rằng:
Anh đã trở về, nhưng không phải vì tôi.
Tối hôm đó Lục Kỳ Phong không về nhà.
Sáng hôm sau, anh nhắn cho tôi một tin:
“Trong đội trực chiến.”
Tôi chỉ nhìn qua rồi không trả lời.
Buổi sáng, tôi đến bệnh viện dã chiến để kiểm tra lại vết trầy xước trên cánh tay.
Bác sĩ quân y nhìn v/ế/t th/ư/ơ/ng, cau mày hỏi:
“Hôm qua sao không kh/â/u?”
“V/ế/t th/ư/ơ/ng thế này phải nhập viện đấy.”
Tôi đáp:
“Trong nhà có việc.”
Cô ấy thở dài:
“V/ế/t th/ư/ơ/ng hơi viêm rồi, gần đây đừng để dính nước.”
Bác sĩ quân y vừa ghi vào bệnh án vừa hỏi:
“Người nhà đâu?”
Tôi khựng lại trong giây lát:
“Anh ấy bận.”
Cô ấy ngẩng đầu nhìn tôi một cái, sau đó không hỏi thêm.
Ra khỏi phòng khám, mẹ gọi điện tới.
“Sương Sương, sao giọng con khàn thế?”
“Con bị cảm.”
“Lại lừa mẹ.”
Giọng bà chậm rãi trầm xuống:
“Có phải Lục Kỳ Phong đi làm nhiệm vụ, con lại thức đêm chờ nó không?”
Tôi cầm phiếu kiểm tra đứng bên cửa sổ hành lang:
“Không có.”
Mẹ thở dài:
“Từ nhỏ con đã như thế, một khi đã nhận định chuyện gì thì cứ cố chấp đến cùng.”
“Nhưng con người không thể cả đời đứng canh trước một cánh cửa vĩnh viễn không mở.”
Sống mũi tôi cay lên:
“Mẹ…”
Bà lập tức đổi giọng:
“Được rồi, được rồi, mẹ không nói con nữa.”
“Cuối tuần về ăn cơm đi, mẹ hầm canh sườn cho con.”
“Vâng.”
Cúp máy, tôi gấp phiếu kiểm tra lại rồi bỏ vào túi.
Chiều hôm đó, tôi bắt đầu thu xếp đồ đạc trong nhà.
Trên tầng cao nhất của tủ sách phòng khách là những huân chương quân công Lục Kỳ Phong mang về.
Tôi lần lượt lau sạch từng chiếc rồi đặt chúng về vị trí cũ.
Bên cạnh có một chiếc chuông cửa cũ, chính là chiếc được thay ra khi tôi vừa theo quân đến sống cùng anh ở khu nhà dành cho gia đình quân nhân.
Khi đó Lục Kỳ Phong từng nói tiếng chuông cũ quá nhỏ, anh thường trở về lúc nửa đêm, sợ tôi không nghe thấy.
Tôi cười anh:
“Không nghe thấy chẳng phải càng tốt sao?”
“Em còn có thể ngủ một giấc yên ổn.”
Anh nói:
“Không được, anh muốn em biết ngay khi anh trở về.”
Khi ấy, anh thật sự sẽ đứng ngoài cửa ôm chặt lấy tôi, trên người còn mang theo mùi khói s/ú/ng và bùn đất, thấp giọng nói:
“Anh về rồi.”
Về sau, câu nói đó ngày càng ít xuất hiện.
Rồi sau nữa, chuông cửa vang lên.
Anh bước vào nhà, thay giày, tắm rửa rồi đi ngủ.
Còn tôi trong cuộc hôn nhân này, từng chút một biến thành một người tự động bật đèn, tự động hâm cơm, tự động thấu hiểu.
Chập tối, Lục Kỳ Phong trở về.
Trong tay anh cầm một tuýp thuốc mỡ:
“Quân y đưa, dùng để trị vết trầy xước.”
Tôi nhìn tuýp thuốc:
“Cảm ơn.”
Hàng mày anh hơi giãn ra, đặt tuýp thuốc lên bàn trà.
“Tối qua giọng anh hơi nặng.”
“Tô Vãn quả thật còn trẻ, cô ấy xem em là chị dâu nên mới giải thích với em nhiều như vậy, em đừng nghĩ nhiều.”
Tâm trạng tôi vừa mới tốt lên một chút lại chìm xuống.
“Vậy anh xin lỗi là để em đừng trách cô ta sao?”
Lục Kỳ Phong im lặng:
“Anh không có ý đó.”
“Anh không có ý đó.”
Tôi nhìn Lục Kỳ Phong vài giây rồi nhẹ nhàng gật đầu.
“Vậy thì tốt.”
Có lẽ phản ứng quá bình thản của tôi khiến anh lại nhíu mày.
“Ninh Sương, em có thể đừng nói chuyện kiểu này được không?”
“Kiểu nào?”
“Cứ như anh nói gì cũng chẳng liên quan đến em.”
Tôi bật cười.
Hóa ra anh cũng nhận ra.
Chỉ tiếc là hơi muộn.
Tôi cầm tuýp thuốc trên bàn trà lên, nhìn dòng hướng dẫn sử dụng bên ngoài, rồi bỏ vào ngăn kéo.
“Lục Kỳ Phong, trước đây anh nói em quá quan tâm.”
“Bây giờ em không quan tâm nữa, anh lại không quen sao?”
Sắc mặt anh lập tức lạnh xuống.
“Anh chưa từng nói em quá quan tâm.”
“Anh đã nói.”
“Ngay từ khi mới kết hôn, mỗi lần anh đi nhiệm vụ, em nhắn tin hỏi anh ăn cơm chưa, anh bảo em đừng làm phiền.”
“Em chờ anh về ăn tối, anh nói không cần đợi.”
“Em hỏi anh có b/ị th/ư/ơ/ng không, anh bảo đó là chuyện trong đội, không cần báo cáo với em.”
“Em muốn tham gia ngày hội gia đình của đơn vị, anh nói em không hiểu chuyện quân đội, đến đó chỉ thêm phiền.”
“Lần này em gọi cầu cứu, anh cúp máy.”
Tôi nhìn anh.
“Em đã nghe lời anh tất cả rồi.”
“Em không làm phiền nữa.”
“Không đợi nữa.”
“Không hỏi nữa.”
“Không xen vào nữa.”
“Tại sao anh vẫn không hài lòng?”
Lục Kỳ Phong đứng trước sofa, bàn tay buông bên người khẽ siết chặt.
Rất lâu sau, anh mới lên tiếng:
“Chuyện cuộc gọi hôm đó không giống những chuyện này.”
“Khác ở đâu?”
“Khi đó anh đang chỉ huy chiến đấu.”
“Em biết.”
“Vậy em còn muốn anh phải làm thế nào?”
Tôi im lặng.
Đó chính là vấn đề.
Cho đến tận bây giờ, anh vẫn cho rằng tôi trách anh vì đã không lập tức bỏ nhiệm vụ để chạy tới cứu tôi.
Anh hoàn toàn không hiểu điều gì mới thật sự khiến tôi tuyệt vọng.
Tôi không cần anh vứt bỏ hàng chục đồng đội cùng hàng trăm người dân để đến tìm tôi.
Tôi chỉ cần anh nghe hết một câu.
Chỉ một câu mà thôi.
Nhưng hôm đó, khi phía sau tôi liên tục vang lên tiếng n/ổ, khi cửa kính của căn nhà tạm trú đã vỡ hoàn toàn, khi một người bị thương nằm cách tôi chưa đầy 5 mét, tôi run rẩy gọi điện cho chồng mình.
Điện thoại vừa kết nối, tôi chỉ kịp nói:
“Kỳ Phong, chỗ em đang…”
Anh đã cắt ngang:
“Ninh Sương, anh đang làm nhiệm vụ.”
“Đừng gọi nữa.”
Sau đó điện thoại bị ngắt.
Không có một câu “em có an toàn không”.
Không có một câu “tìm chỗ trú trước đi”.
Thậm chí anh cũng không để tôi có đủ 3 giây để nói hết địa điểm.
Tôi đứng giữa hành lang đầy khói, nghe tiếng tút tút từ điện thoại kéo dài suốt mấy giây.
Sau đó, tôi tự cứu mình.
Tôi lấy khăn ướt che mũi, cùng mấy nhân viên cứu trợ phá cửa sau chạy ra ngoài.
Lúc đi ngang qua sân, một viên đ/ạ/n lạc sượt qua cánh tay tôi.
Vết thương không sâu đến mức nguy hiểm tính m/ạ/ng.
Nhưng đau.
Rất đau.
Điều khiến tôi đau nhất lại không phải cánh tay.
Mà là vào khoảnh khắc đó, tôi đột nhiên hiểu ra một chuyện.
Nếu một ngày tôi thật sự ch/ế/t ở đâu đó, có lẽ Lục Kỳ Phong cũng chỉ biết sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Sau đó anh có thể sẽ đứng nghiêm trước di ảnh của tôi.
Có lẽ anh sẽ đau lòng.
Có lẽ anh sẽ hối hận.
Nhưng anh vẫn sẽ nghĩ rằng mình không làm sai.
Bởi anh có hàng ngàn lý do chính đáng.
Chỉ có tôi là không còn lý do gì để tiếp tục chờ anh.
Tôi thu ánh mắt lại.
“Không cần làm thế nào cả.”
“Em chỉ đang nói cho anh biết, chuyện đó đã qua rồi.”
Lục Kỳ Phong nhìn tôi.
“Qua rồi?”
“Ừ.”
Không hiểu vì sao, hai chữ ấy dường như còn khiến anh khó chịu hơn cả lúc tôi tranh cãi.
Anh bước lại gần.
“Ninh Sương, chuyện vợ chồng không thể cứ nói qua là qua.”
Tôi ngẩng đầu.
“Vậy anh muốn thế nào?”
Anh nghẹn lời.
Có lẽ chính anh cũng không biết.
Trước đây, mỗi khi giữa chúng tôi xảy ra mâu thuẫn, người chủ động làm hòa luôn là tôi.
Tôi sẽ pha trà.
Sẽ ngồi bên cạnh anh.
Sẽ kéo tay áo anh, nhỏ giọng hỏi:
“Đội trưởng Lục còn giận em sao?”
Có những lúc anh vẫn giữ vẻ lạnh lùng.
Nhưng chỉ cần tôi ôm lấy anh, anh sẽ thở dài rồi xoa đầu tôi.
Thế là mọi chuyện coi như qua.
Anh chưa từng phải học cách dỗ dành tôi.
Bởi trước khi anh kịp nhận ra tôi đang buồn, tôi luôn là người tự dỗ mình xong trước.
Lần này thì không còn nữa.
Tôi đứng dậy.
“Em đi tắm.”
Lục Kỳ Phong bất chợt nắm lấy cổ tay tôi.
Tôi nhíu mày vì anh vừa đúng lúc giữ trúng cánh tay bị thương.
Anh lập tức buông tay.
“Tay em…”
“Không sao.”
“Quân y nói bị viêm.”
“Thuốc ở đó.”
Tôi chỉ vào ngăn kéo.
“Em tự bôi được.”
Lục Kỳ Phong nhìn bàn tay đang trống không của mình.
Tối hôm ấy, hiếm khi Lục Kỳ Phong không vào phòng làm việc để xem tài liệu.
Anh ngồi trên sofa đến gần 11 giờ.
Tôi tắm xong, sấy tóc rồi lên giường.
Trước khi tắt đèn, anh đẩy cửa bước vào.
“Em ngủ rồi à?”
“Chuẩn bị ngủ.”
“Anh chưa ăn tối.”
Tôi quay đầu nhìn anh.
Có lẽ anh đang chờ tôi nói trong tủ lạnh vẫn còn đồ ăn.
Hoặc chờ tôi đứng dậy hâm cơm cho anh như mọi ngày.
Nhưng tôi chỉ nói:
“Vậy anh ăn đi.”
Lục Kỳ Phong im lặng.
Một lúc sau anh hỏi:
“Không có đồ ăn sao?”
“Không biết.”
“Em không nấu?”
“Không.”
“Vì sao?”
Tôi thật sự không hiểu câu hỏi đó.
“Tại sao em phải nấu?”
Anh sững người.
Từ lúc kết hôn cho đến giờ, tôi gần như chưa từng hỏi câu này.
Hai chúng tôi đều có công việc.
Tôi là phóng viên chiến trường thuộc trung tâm truyền thông liên hợp, thường xuyên theo đoàn cứu trợ tới những khu vực nguy hiểm.
Nhưng vì thời gian của tôi linh hoạt hơn, dần dần tất cả việc nhà đều trở thành phần việc của tôi.
Mua thức ăn.
Giặt quần áo.
Chuẩn bị đồ dùng.
Nhớ ngày thay lõi lọc nước.
Nhớ thuốc đau dạ dày của anh sắp hết.
Nhớ bộ đồng phục nào cần đem đi giặt khô.
Nhớ ngày giỗ bố anh.
Nhớ sinh nhật mẹ anh.
Thậm chí đội của anh có thành viên mới, cần chuẩn bị đồ ăn cho buổi liên hoan, người cuối cùng chạy ra siêu thị mua đồ cũng vẫn là tôi.
Tôi đã làm những việc ấy quá lâu.
Lâu đến mức cả anh và tôi đều quên mất rằng đó không phải nghĩa vụ bẩm sinh của tôi.
Lục Kỳ Phong khựng lại vài giây.
“Anh chỉ hỏi thôi.”
“Ừ.”
Tôi kéo chăn lên.
“Trong tủ lạnh chắc còn trứng.”
Đêm ấy, tiếng động từ trong bếp kéo dài gần nửa tiếng.
Sau đó vang lên tiếng thứ gì đó rơi xuống đất.
Tôi không bước ra xem.
Ngày hôm sau, tôi thức dậy lúc 7 giờ.
Bếp đã được dọn rất sạch.
Trên bàn đặt một đĩa trứng chiên cháy cạnh.
Lục Kỳ Phong đã đi.
Tôi nhìn hai quả trứng một lúc rồi tự pha cà phê.
Buổi trưa, trưởng ban gọi tôi vào văn phòng.
Ông đặt một tập tài liệu trước mặt tôi.
“Đợt điều động sang khu vực biên giới phía Tây em còn muốn đi không?”
Tôi khựng lại.
Ba tháng trước, trung tâm truyền thông mở một vị trí phóng viên thường trú tại trạm cứu trợ biên giới.
Thời hạn một năm.
Tôi từng đăng ký.
Sau đó lại rút.
Bởi Lục Kỳ Phong vừa được điều về đơn vị này, hai vợ chồng mới sống chung chưa đầy nửa năm.
Khi đó anh nghe tôi nói muốn đi một năm, chỉ hỏi:
“Nhất định phải đi sao?”
Nhìn gương mặt mệt mỏi của anh, cuối cùng tôi mềm lòng.
Tôi nói:
“Không đi nữa.”
Anh chỉ “ừ” một tiếng.
Không hỏi tôi có tiếc hay không.
Cũng không biết rằng đó vốn là vị trí tôi đã cạnh tranh suốt gần 2 năm.
Trưởng ban nhìn tôi.
“Người được chọn ban đầu xảy ra vấn đề sức khỏe, phải rút.”
“Lần trước điểm xét duyệt của em đứng thứ hai.”
“Nếu em vẫn muốn đi, tuần sau có thể xuất phát.”
Tôi cúi đầu lật tài liệu.
Một năm.
Trước kia tôi từng thấy nó rất dài.
Bây giờ lại cảm thấy như vậy là vừa đủ.
Tôi hỏi:
“Bao giờ phải trả lời?”
“Ngày mai.”
“Không cần ngày mai.”
Tôi khép tập tài liệu lại.
“Em đi.”
Trưởng ban nhìn tôi với vẻ bất ngờ.
“Không cần bàn với chồng sao?”
Tôi cười.
“Công việc của em, em tự quyết định.”
Ông bật cười.
“Được.”
“Đây mới giống Ninh Sương ngày trước.”
Tôi hơi sững người.
Ngày trước.
Hóa ra đã lâu đến mức ngay cả người ngoài cũng nhận ra tôi đã không còn giống mình nữa.
Chiều hôm đó, tôi ký đơn điều động.
Trên đường về, tôi ghé cửa hàng đồ gia dụng mua một chiếc vali mới.
Chiếc vali màu bạc.
Dung tích lớn.
Nhân viên hỏi tôi đi đâu.
Tôi đáp:
“Đi xa.”
Tối đến, Lục Kỳ Phong trở về sớm hơn mọi ngày.
6 giờ 40.
Anh mở cửa, theo thói quen đưa tay ấn công tắc đèn cảm ứng.
Đèn không sáng.
Anh đứng ngoài cửa hai giây rồi mới bật đèn hành lang.
Tôi đang ngồi dưới đất trước phòng ngủ, phân loại tài liệu.
Anh nhìn chiếc vali mới đặt bên cạnh.
“Đi công tác?”
“Ừ.”
“Bao lâu?”
“Một năm.”
Không khí lập tức lặng đi.
Lục Kỳ Phong đứng nguyên tại chỗ.
Một lúc sau anh mới hỏi:
“Em nói bao lâu?”
“Một năm.”
“Đi đâu?”
“Tuyến biên giới phía Tây.”
“Không được.”
Tôi ngẩng đầu nhìn anh.
Anh bước vào, sắc mặt đã hoàn toàn trầm xuống.
“Khu vực đó tháng trước vừa xảy ra xung đột, điều kiện cứu trợ rất kém.”
“Em biết.”
“Biết mà vẫn đi?”
“Ừ.”
“Ninh Sương.”
Giọng anh nặng xuống.
“Đây không phải lúc để em bốc đồng.”
Tôi bất giác bật cười.
“Anh nghĩ em đi vì giận anh?”
“Không thì sao?”
“Ba tháng trước em đã đăng ký.”
Lục Kỳ Phong im bặt.
Tôi tiếp tục gấp quần áo.
“Sau đó vì anh, em rút.”
Bàn tay anh khẽ siết lại.
“Anh không bảo em rút.”
“Đúng.”
Tôi gật đầu.
“Là em tự nguyện.”
“Cho nên em cũng không trách anh.”
“Bây giờ em chỉ không muốn tự nguyện nữa.”
Lục Kỳ Phong bước tới trước mặt tôi.
“Chúng ta là vợ chồng.”
“Em nhận công tác một năm mà không nói với anh?”
Tôi ngẩng lên.
“Anh ra nhiệm vụ bao nhiêu lần cũng chưa từng hỏi ý kiến em.”
“Công việc của anh không giống.”
“Công việc của em cũng là công việc.”
“Anh đang lo cho an toàn của em.”
Ngay khi câu nói này được thốt ra, căn phòng lập tức chìm vào yên tĩnh.
Tôi nhìn anh thật lâu.
Sau đó tôi cười.
Không phải nụ cười châm chọc.
Chỉ là tôi thật sự cảm thấy buồn cười.
“Lục Kỳ Phong.”
“Anh biết không?”
“Hôm em gọi điện cầu cứu, em cũng hy vọng anh lo cho an toàn của em.”
Sắc mặt anh cứng lại.
Tôi cúi đầu.
“Nhưng thôi.”
“Đừng nói nữa.”
Đêm ấy, chúng tôi không nói thêm câu nào.
Ngày thứ hai, chiếc đèn cảm ứng ngoài cửa được sửa lại.
Tôi đi làm về thì phát hiện nó đã sáng.
Tôi đứng trước cửa vài giây.
Lục Kỳ Phong từ phòng bếp bước ra.
“Anh thay cảm biến mới.”
Tôi “ừ” một tiếng.
Anh nhìn tôi.
“Không phải em nói hỏng.”
“Em nói em tắt.”
“Anh biết.”
“Vậy anh sửa làm gì?”
“Sau này anh về muộn…”
Anh dừng lại.
Có lẽ chính anh cũng nhận ra câu nói ấy không đúng.
Tôi sắp đi một năm.
Sẽ chẳng còn ai cần chiếc đèn đó để biết anh đã trở về.
Lục Kỳ Phong thấp giọng:
“Thôi.”
Bữa tối hôm đó là do anh nấu.
Ba món một canh.
Thịt bò hơi mặn.
Rau xào quá chín.
Canh sườn lại nhạt.
Anh đặt bát trước mặt tôi.
“Ăn đi.”
Tôi hơi bất ngờ.
“Anh nấu?”
“Ừ.”
“Cảm ơn.”
Tôi ăn hết một bát cơm.
Không khen.
Cũng không chê.
Lục Kỳ Phong mấy lần định nói gì đó, nhưng cuối cùng vẫn im lặng.
Sau bữa ăn, tôi đứng dậy thu dọn bát đũa.
Anh lập tức nói:
“Để anh rửa.”
“Được.”
Tôi lập tức buông tay.
Anh lại khựng lại.
Có lẽ anh vốn nghĩ tôi sẽ khách sáo vài câu.
Nhưng tôi thật sự để anh rửa.
Từ hôm đó, Lục Kỳ Phong bắt đầu về nhà sớm.
6 giờ 30.
6 giờ 10.
Có hôm thậm chí chưa đến 6 giờ đã trở về.
Tôi không hỏi nguyên nhân.
Anh cũng không giải thích.
Chỉ có điều Tô Vãn gọi điện cho anh nhiều hơn.
Ngày thứ ba, lúc chúng tôi đang ăn cơm, điện thoại anh vang lên.
Tên trên màn hình là Tô Vãn.
Lục Kỳ Phong nhìn tôi.
Tôi vẫn tiếp tục ăn.
Anh nhận máy.
“Có chuyện gì?”
Không biết bên kia nói gì.
Lục Kỳ Phong nhíu mày.
“Phương án hôm nay tôi đã đánh dấu lỗi.”
“Ngày mai lên đội sửa.”
Bên kia lại nói gì đó.
Anh đáp:
“Không cần.”
“Đã hết giờ làm việc.”
Sau đó anh cúp máy.
Tôi gắp thêm rau.
Lục Kỳ Phong nhìn tôi.
“Cô ấy hỏi về báo cáo chiến thuật.”
“Ừ.”
“Anh bảo ngày mai xử lý.”
“Em nghe thấy rồi.”
“Em không có gì muốn nói sao?”
Tôi ngẩng đầu.
“Nói gì?”
Anh mím môi.
“Không có gì.”
Ngày thứ tư, anh mang chiếc áo tác chiến trước đây từng đưa cho Tô Vãn về.
Chiếc áo đã được giặt sạch.
Đường chỉ tôi vá lần thứ tư ở cổ tay vẫn còn đó.
Anh đặt áo lên ghế.
“Áo của anh.”
Tôi liếc qua.
“Ồ.”
Lục Kỳ Phong đứng bên cạnh, không rời đi.
Tôi hỏi:
“Còn việc gì sao?”
“Anh lấy lại rồi.”
“Em thấy.”
“Tô Vãn có đồng phục mới.”
“Ừ.”
“Ninh Sương.”
Anh đột nhiên gọi tên tôi.
Tôi ngẩng lên.
Anh hỏi:
“Em không hỏi tại sao anh lấy lại sao?”
Tôi thật sự không hiểu.
“Đồ của anh, anh muốn lấy thì lấy.”
“Liên quan gì đến em?”
Sắc mặt Lục Kỳ Phong lập tức thay đổi.
Anh nhìn chiếc áo rất lâu.
Đường chỉ ở cổ tay chẳng đẹp chút nào.
Lần đầu tôi học vá, mũi chỉ xiêu vẹo.
Lục Kỳ Phong từng cười:
“Xấu quá.”
Tôi tức đến mức giật chiếc áo lại.
“Xấu thì đừng mặc.”
Anh lại cầm đi.
“Vá rồi thì mặc.”
Lần thứ hai áo rách ở vai.
Lần thứ ba là túi áo.
Lần thứ tư lại rách ở cổ tay.
Tôi từng nói:
“Áo này sắp thành tác phẩm của em rồi.”
Anh đáp:
“Vậy giữ đến khi em không vá nổi nữa.”
Cuối cùng nó không hỏng đến mức tôi không thể vá tiếp.
Mà là bị anh tiện tay đưa cho người khác.
Tôi không cần nữa.
Tối đó, Lục Kỳ Phong tự tay treo chiếc áo về vị trí cũ.
Sáng hôm sau, tôi thu dọn tủ quần áo.
Áo của anh chiếm gần hai phần ba.
Tôi lấy đồ của mình ra.
Lục Kỳ Phong đứng ngoài cửa nhìn tôi.
“Em mang hết sao?”
“Đồ mùa này thôi.”
“Đi một năm còn quay về.”
Tôi dừng tay.
“Ừ.”
Anh nhìn tôi.
Không hiểu vì sao, tôi cảm thấy anh đang chờ một lời bảo đảm.
Tôi sẽ quay về.
Tôi vẫn sẽ ở đây.
Nhà vẫn là nhà.
Nhưng tôi không nói.
Bởi ngay cả tôi cũng không biết một năm sau mình còn muốn trở về căn nhà này hay không.
Ba ngày trước khi tôi xuất phát, đội của Lục Kỳ Phong xảy ra chuyện.
Một cuộc diễn tập cứu hộ liên hợp được tổ chức gần khu vực thành phố.
Đơn vị truyền thông của chúng tôi cũng tham gia.
Ban đầu tôi không nằm trong nhóm tác nghiệp hôm ấy, nhưng một đồng nghiệp đột ngột sốt cao nên trưởng ban nhờ tôi thay.
Tôi tới hiện trường lúc 8 giờ sáng.
Vừa xuống xe, tôi đã nhìn thấy Tô Vãn.
Cô ta đứng cạnh xe chỉ huy, sắc mặt có phần khó coi.
Thấy tôi, cô ta cười:
“Chị dâu.”
Tôi gật đầu.
“Đồng chí Tô.”
Nụ cười của cô ta cứng lại.
“Chị vẫn giận em sao?”
“Không.”
“Vậy sao lại khách sáo như vậy?”
“Chúng ta vốn không thân.”
Tô Vãn cắn môi.
“Có phải vì chuyện anh Kỳ Phong không?”
Tôi đang kiểm tra pin máy ghi âm, nghe vậy mới nhìn cô ta.
“Tô Vãn.”
“Cô thật sự rất thích nhắc chồng tôi trước mặt tôi.”
Mặt cô ta đỏ lên.
“Em không có ý đó.”
“Vậy thì bớt nhắc.”
Tôi đeo thẻ công tác lên.
“Không ai hỏi.”
Cô ta đứng sững.
Một đồng nghiệp bên cạnh tôi suýt bật cười.
Tôi không quan tâm nữa.
9 giờ, cuộc diễn tập bắt đầu.
Theo kịch bản, một khu nhà bỏ hoang xảy ra sập cục bộ.
Đội đặc chiến phối hợp cùng lực lượng cứu hộ phá cửa, giải cứu “người bị nạn”.
Ban đầu mọi thứ diễn ra rất thuận lợi.
Cho đến 9 giờ 37 phút.
Một tiếng n/ổ thực sự vang lên.
Toàn bộ hiện trường chấn động.
Mảnh kính từ tầng hai rơi xuống.
Bộ đàm lập tức trở nên hỗn loạn.
“Không phải diễn tập!”
“Khu B phát n/ổ!”
“Có người mắc kẹt!”
Theo phản xạ, tôi ngồi xổm xuống phía sau vật chắn.
Một nhân viên kỹ thuật hét lên:
“Đường ống khí cũ!”
“Có khả năng còn n/ổ lần hai!”
Đội đặc chiến lập tức chuyển sang trạng thái ứng phó.
Lục Kỳ Phong chạy tới trước xe chỉ huy.
Chưa đầy nửa phút, anh đã nhanh chóng chia đội hình.
Tôi nhìn anh xuyên qua làn khói.
Vẫn là người đàn ông đó.
Bình tĩnh.
Quyết đoán.
Không hề có chút hoảng loạn.
Tô Vãn cũng nằm trong tổ đột kích.
Cô ta theo đội tiến vào khu B.
Khoảng 5 phút sau, bộ đàm truyền tới giọng của cô ta.
“Đội trưởng!”
“Phía đông có người bị mắc kẹt!”
“Tôi…”
Âm thanh đột nhiên dừng lại.
Sau đó vang lên tiếng thở gấp.
“Tôi không nhìn rõ!”
Lục Kỳ Phong lập tức đáp:
“Tô Vãn, báo vị trí.”
“Khu B2…”
Cùng lúc đó, điện thoại công tác của tôi rung lên.
Một đồng nghiệp phía sau hiện trường gọi tới.
“Ninh Sương, bên cô còn an toàn không?”
“An toàn.”
“Có một nhân viên quay phim của chúng ta mất liên lạc, vị trí cuối cùng ở hành lang phía Tây.”
Tôi lập tức báo cho người phụ trách cứu hộ.
Đúng lúc ấy, một đội viên chạy tới:
“Đội trưởng Lục, đường phía Đông đã thông.”
“Tô Vãn chỉ bị mắc trong phòng phụ, không có người bị thương.”
“Nhưng hành lang Tây có người thật sự bị mắc kẹt.”
Lục Kỳ Phong lập tức thay đổi mệnh lệnh.
“Đội 2 sang phía Tây.”
“Tổ của Tô Vãn tự rút theo tuyến an toàn.”
Một giọng nữ nghẹn ngào truyền ra từ bộ đàm:
“Đội trưởng…”
“Tôi sợ.”
Tất cả những người xung quanh đều nghe thấy.
Tôi nhìn Lục Kỳ Phong.
Lần này anh im lặng hai giây.
Sau đó, giọng nói lạnh lùng vang lên:
“Đồng chí Tô Vãn.”
“Cô là quân nhân.”
“Nếu không thể hoàn thành nhiệm vụ cơ bản chỉ vì sợ hãi, sau khi trở về tự viết báo cáo đánh giá năng lực.”
Sắc mặt những người bên cạnh đều thay đổi.
Bộ đàm lập tức im bặt.
Mấy phút sau, nhân viên quay phim được cứu ra.
May mắn chỉ bị gãy chân.
Không có thương vong.
Cuộc diễn tập lập tức bị hủy.
Khi mọi người tập trung kiểm tra quân số, Tô Vãn đi thẳng tới trước mặt Lục Kỳ Phong.
Hốc mắt cô ta đỏ bừng.
“Đội trưởng, lúc nãy anh biết rõ em rất sợ.”
“Vì sao anh không đến?”
Lục Kỳ Phong nhìn cô ta.
“Tuyến của cô an toàn.”
“Nhưng em cần anh!”
Câu nói vừa vang lên, xung quanh lập tức yên tĩnh.
Tôi đang đứng cách đó không xa.
Tô Vãn dường như cũng nhận ra mình đã thất thố, môi trắng bệch.
Lục Kỳ Phong trầm giọng:
“Cô cần đội trưởng hay cần Lục Kỳ Phong?”
Tô Vãn sững sờ.
“Có khác nhau sao?”
“Có.”
“Trong nhiệm vụ, cô cần đội trưởng.”
“Đội trưởng sẽ căn cứ vào mức độ nguy hiểm để điều phối lực lượng.”
“Còn nếu cô cần Lục Kỳ Phong…”
Anh dừng lại một chút.
“Tôi đã kết hôn.”
“Người có quyền cần tôi với tư cách cá nhân không phải cô.”
Mặt Tô Vãn đỏ bừng.
Cô ta nhìn về phía tôi.
Tôi không nói gì.
Đây là lần đầu tiên Lục Kỳ Phong nói rõ ràng như vậy.
Nhưng tôi không vui.
Bởi tôi đã không còn cần câu nói ấy nữa.
Trên đường trở về, Lục Kỳ Phong ngồi bên cạnh tôi.
Chiếc xe rung lắc.
Anh bất chợt lên tiếng:
“Hôm đó…”
Tôi biết anh muốn nhắc tới ngày tôi gọi cầu cứu.
“Đừng nói.”
Anh quay sang.
“Tại sao?”
“Không cần.”
“Ninh Sương.”
“Anh hiểu rồi.”
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Hiểu là tốt.”
“Nhưng anh muốn giải thích.”
“Em không muốn nghe.”
Giọng tôi vẫn vô cùng bình tĩnh.
“Lục Kỳ Phong, trước đây em muốn nghe anh giải thích.”
“Anh không giải thích.”
“Bây giờ em không muốn nghe nữa.”
“Anh lại muốn nói.”
“Không phải mọi thứ đều có thể đợi đến lúc anh sẵn sàng mới bắt đầu.”
Anh im lặng suốt phần đường còn lại.
Buổi tối, tôi nhận được điện thoại từ bệnh viện quân khu.
Họ yêu cầu tôi tới bổ sung hồ sơ liên quan đến vết thương trong chiến khu lần trước.
Tôi vốn nghĩ đó chỉ là thủ tục.
Không ngờ vừa đến nơi, tôi đã gặp một người quen.
Trung úy Trình Nghị.
Anh ấy là thành viên đội thông tin từng tham gia nhiệm vụ cùng Lục Kỳ Phong hôm đó.
Thấy tôi, sắc mặt Trình Nghị hơi thay đổi.
“Chị dâu?”
“Tôi đến lấy hồ sơ.”
Anh ấy gật đầu rồi định rời đi.
Tôi chợt nhớ tới một chuyện.
“Trình Nghị.”
Anh ấy quay lại.
“Tôi hỏi anh một chuyện được không?”
“Chị hỏi đi.”
“Hôm xảy ra giao tranh, khoảng 4 giờ chiều, hệ thống liên lạc của đội có vấn đề sao?”
Trình Nghị khựng lại.
“Không.”
“Lúc đó đội trưởng Lục bận đến mức không thể nghe điện thoại sao?”
Gương mặt anh ấy lập tức cứng lại.
Nhìn phản ứng đó, trong lòng tôi bỗng lạnh xuống.
“Có chuyện gì?”
“Không…”
“Trình Nghị.”
Tôi chậm rãi nói:
“Tôi là người bị thương trong sự cố đó.”
“Bệnh viện đang bổ sung báo cáo.”
“Nếu có tình tiết liên quan, tôi cần biết.”
Anh ấy im lặng rất lâu.
Cuối cùng mới nói:
“Hôm đó đội trưởng quả thật đang chỉ huy.”
“Nhưng…”
“Nhưng gì?”
“Lúc chị gọi lần thứ nhất, đội trưởng đang trao đổi kế hoạch.”
“Lần thứ nhất?”
Tôi lập tức bắt lấy ba chữ ấy.
“Tôi gọi mấy lần?”
Trình Nghị biến sắc.
“Ba lần.”
Tay tôi lạnh ngắt.
“Tại sao điện thoại tôi chỉ hiện một cuộc?”
“Bởi hai lần sau không phải chị gọi.”
Tôi ngẩng đầu.
Trình Nghị nói:
“Hệ thống cứu hộ phát hiện số điện thoại của chị thuộc nhóm người dân cần sơ tán.”
“Trung tâm chỉ huy đã hai lần chuyển tiếp tín hiệu khẩn cấp tới thiết bị cá nhân của đội trưởng.”
“Lần đầu đội trưởng không nhận.”
“Lần thứ hai…”
Anh ấy ngừng lại.
“Tô Vãn nhận.”
Tôi đứng bất động.
“Cô ta?”
“Hôm đó thiết bị cá nhân của đội trưởng đặt trên bàn điều phối.”
“Anh ấy đang trao đổi tại bản đồ tác chiến.”
“Tô Vãn nói với trung tâm rằng người liên lạc là người nhà đội trưởng, đã xác nhận an toàn, không cần điều lực lượng.”
Tai tôi ù đi.
Rất lâu sau tôi mới lên tiếng hỏi:
“Lục Kỳ Phong có biết không?”
“Lúc đó thì không.”
“Còn sau đó?”
Trình Nghị cúi đầu.
“Sau khi nhiệm vụ kết thúc, trung tâm có gửi báo cáo.”
“Tôi không rõ đội trưởng có đọc kỹ hay không.”
Tôi bật cười.
Không biết.
Lại là không biết.
Tôi xin một bản sao hồ sơ liên lạc.
Tối hôm ấy, 7 giờ Lục Kỳ Phong mới về.
Tôi đặt tập tài liệu lên bàn.
“Anh xem đi.”
Anh vừa tháo áo khoác vừa nhìn tôi.
“Cái gì vậy?”
“Báo cáo liên lạc ngày 17 tháng trước.”
Sắc mặt anh lập tức biến đổi.
Anh cầm tập tài liệu lên.
Trang đầu.
Trang thứ hai.
Đến trang thứ ba, bàn tay anh khựng lại.
Tôi nhìn thẳng vào anh.
“Anh biết chuyện Tô Vãn tự ý trả lời trung tâm cứu hộ chưa?”
Lục Kỳ Phong im lặng.
Tôi hiểu.
“Anh biết.”
“Sau khi nhiệm vụ kết thúc anh mới biết.”
“Vậy tại sao anh không nói cho em?”
Anh siết chặt tập hồ sơ.
“Lúc đó em đã an toàn rồi.”
Tôi nhìn anh không chớp mắt.
Anh lập tức giải thích tiếp:
“Tô Vãn vừa hoàn thành nhiệm vụ đầu tiên, tâm lý của cô ấy không ổn định.”
“Cô ấy nói chỉ nghĩ em đã liên lạc được với anh nên…”
Tôi chợt bật cười.
Hóa ra là vậy.
Tôi cứ tưởng cuộc gọi hôm đó đã là tận cùng.
Không ngờ bên dưới tận cùng vẫn còn một tầng khác.
“Nghĩa là anh biết cô ta tự ý nhận cuộc gọi cầu cứu của em.”
“Biết cô ta nói dối trung tâm rằng em vẫn an toàn.”
“Nhưng anh vẫn để cô ta tiếp tục ở trong đội.”
“Vẫn lấy áo của em cho cô ta mặc.”
“Vẫn ở lại qua đêm cùng cô ta để rà soát chiến thuật.”
“Thậm chí còn đưa em đến cuộc họp nghe cô ta xin lỗi?”
Mỗi một câu thốt ra, sắc mặt Lục Kỳ Phong lại nhợt đi thêm.
“Ninh Sương, chuyện không giống như em nghĩ.”
“Vậy rốt cuộc là thế nào?”
“Cô ấy đã chịu xử phạt nội bộ.”
“Xử phạt gì?”
Anh không đáp.
Tôi nhìn thẳng vào anh.
“Viết bản kiểm điểm?”
“Trừ thành tích?”
“Hay chỉ chạy thêm vài vòng?”
“Lục Kỳ Phong.”
“Cô ta đại diện cho một người đang ở vùng giao tranh để xác nhận an toàn.”
“Anh có biết chuyện đó có ý nghĩa gì không?”
Đây là lần đầu tiên giọng tôi run lên.
“Nếu hôm đó tôi không tự mình chạy ra được.”
“Nếu viên đ/ạ/n đó lệch thêm vài centimet.”
“Nếu người gọi cầu cứu không phải tôi mà là một người dân khác.”
“Cô ta có thể hại ch/ế/t một người.”
“Anh biết.”
Lục Kỳ Phong hạ giọng.
“Anh biết.”
“Biết mà anh vẫn che chở cho cô ta?”
“Anh không che chở.”
“Vậy tại sao cô ta vẫn còn ở trong đội?”
Anh không trả lời.
Tôi hiểu rồi.
Bởi cô ta là con gái của người từng cứu anh.
Bởi bố Tô Vãn là chiến hữu cũ của bố anh.
Bởi trước khi mất, ông ấy từng nhờ nhà họ Lục chăm sóc con gái mình.
Tôi đã biết mối quan hệ ấy từ rất lâu.
Chỉ là tôi chưa từng nghĩ hai chữ “chăm sóc” trong mắt Lục Kỳ Phong lại có thể lớn đến mức nuốt chửng cả nguyên tắc của anh.
Tôi ngồi xuống sofa.
Không còn tức giận.
Chỉ thấy mệt mỏi.
“Lục Kỳ Phong.”
“Chúng ta ly hôn đi.”
Tập tài liệu trong tay anh rơi xuống mặt bàn.
Một tiếng “bộp” rất nhẹ.
Thế nhưng cả căn phòng lại như bị một tiếng n/ổ xé tan.
Anh đứng im.
“Em vừa nói gì?”
“Ly hôn.”
“Không thể.”
Anh gần như lập tức trả lời.
Tôi ngẩng lên.
“Tại sao?”
“Anh không đồng ý.”
“Ly hôn đâu phải nhiệm vụ trong đội.”
Tôi nói.
“Không cần đội trưởng Lục phê duyệt.”
Sắc mặt anh lạnh xuống đến mức đáng sợ.
“Ninh Sương, em đang giận.”
“Anh sẽ không nói chuyện này với em khi em đang mất bình tĩnh.”
Tôi kéo ngăn kéo ra.
Lấy một phong bì.
Bên trong chính là đơn ly hôn tôi đã chuẩn bị từ hai ngày trước.
Tôi đặt nó trước mặt anh.
“Em rất bình tĩnh.”
Lục Kỳ Phong nhìn phong bì.
Anh không đưa tay lấy.
“Em đã chuẩn bị từ trước?”
“Ừ.”
“Trước khi biết chuyện Tô Vãn?”
“Ừ.”
Anh nhìn tôi, trong mắt lần đầu tiên hiện lên vẻ gần như hoảng loạn.
“Ninh Sương.”
“Vậy chuyện hôm nay chỉ là một cái cớ?”
“Không.”
Tôi lắc đầu.
“Nó chỉ khiến em càng chắc chắn rằng quyết định của mình là đúng.”
Anh bước về phía tôi.
“Anh không đồng ý.”
“Em có thể đi công tác.”
“Có thể đi một năm.”
“Anh cũng có thể điều chỉnh.”
“Chuyện Tô Vãn, anh sẽ giải quyết.”
“Từ hôm nay cô ấy sẽ không…”
“Muộn rồi.”
Tôi nhẹ nhàng cắt ngang.
Ba chữ ấy khiến anh lập tức im bặt.
“Lục Kỳ Phong.”
“Em đã từng cho anh rất nhiều cơ hội.”
“Chỉ là khi đó anh không biết đó là cơ hội.”
“Ngày em đứng trước cổng đơn vị đợi anh 4 tiếng dưới mưa, anh về cùng đồng đội rồi còn hỏi tại sao em không tự về.”
“Đó là một lần.”
“Ngày kỷ niệm kết hôn, em nấu cả bàn thức ăn, anh không về, mãi đến 2 giờ sáng mới nhắn rằng đang họp.”
“Đó là một lần.”
“Ngày em sốt 39 độ, gọi cho anh, anh nói trong đội bận rồi bảo em tự bắt xe đến bệnh viện.”
“Đó là một lần.”
“Ngày em gọi cầu cứu ở chiến khu.”
Tôi dừng lại.
“Đó là lần cuối.”
“Thật ra ngay từ lúc ấy em đã muốn rời đi rồi.”
“Chỉ là em vẫn còn chút không cam lòng.”
“Em muốn xem nếu em không còn chủ động nữa, liệu anh có nhận ra cuộc hôn nhân này đang ch/ế/t hay không.”
Tôi cười.
“Anh đã nhận ra.”
“Nhưng anh chỉ nhận ra đèn không sáng.”
“Anh không nhận ra em đã chẳng còn yêu anh như trước nữa.”
Đồng tử Lục Kỳ Phong khẽ co lại.
Tôi đứng lên.
“Ngày kia em đi.”
“Đơn em để ở đây.”
“Nếu anh không ký, em sẽ làm thủ tục theo quy định.”
Anh đưa tay giữ lấy cánh tay tôi.
Lần này anh tránh đúng chỗ bị thương.
“Ninh Sương.”
Giọng anh khàn đi.
“Em nói em không còn yêu anh?”
Tôi nhìn anh.
“Em đang học.”
“Học gì?”
“Học cách không yêu anh nữa.”
Bàn tay anh buông xuống.
Tôi quay vào phòng ngủ.
Đêm ấy, Lục Kỳ Phong không ngủ.
Sáng hôm sau, tôi thấy anh vẫn ngồi trong phòng khách.
Không có tàn thuốc.
Cũng chẳng có rượu.
Vốn dĩ anh không dùng những thứ ấy.
Anh chỉ ngồi đó.
Trước mặt là tờ đơn ly hôn vẫn chưa được ký.
Tôi kéo vali ra.
Anh ngẩng đầu.
“Anh đưa em ra ga.”
“Không cần.”
“Anh xin nghỉ buổi sáng.”
“Em có xe đơn vị.”
“Ninh Sương.”
Anh đứng dậy.
“Tối nay về ăn một bữa được không?”
Tôi nhìn anh.
Có lẽ đây là lần đầu tiên trong nhiều năm, anh chủ động hỏi tôi có về ăn tối hay không.
Tôi gật đầu.
“Được.”
Tối hôm đó, anh nấu toàn những món tôi thích.
Cá hấp.
Sườn chua ngọt.
Cải thìa.
Canh củ sen.
Lần này nêm nếm vừa vặn.
Tôi ăn rất chậm.
Lục Kỳ Phong cũng không nói lời nào.
Sau bữa ăn, anh lấy từ phòng ngủ ra một chiếc hộp gỗ.
Bên trong chứa rất nhiều thứ.
Vé xem phim.
Một tấm ảnh cưới nhỏ.
Một chiếc dây buộc tóc của tôi.
Chiếc thẻ tên tôi từng làm cho anh.
Và miếng vải đầu tiên tôi dùng để vá áo tác chiến cho anh.
Tôi hơi sững người.
“Anh vẫn giữ những thứ này?”
“Ừ.”
“Em cứ nghĩ anh vứt hết rồi.”
“Không.”
Anh nhìn tôi.
“Ninh Sương, không phải anh không quan tâm.”
Tôi không nói gì.
“Anh chỉ…”
Anh ngừng rất lâu.
“Anh cứ nghĩ em sẽ luôn ở đó.”
Một câu nói quá thật.
Thật đến mức tàn nhẫn.
Tôi mỉm cười.
“Em biết.”
“Anh không phải không yêu em.”
“Anh chỉ cho rằng tình yêu của em quá chắc chắn.”
“Chắc chắn đến mức anh có thể đặt nó xuống vị trí cuối cùng.”
“Đồng đội cần anh.”
“Người mới cần anh.”
“Nhiệm vụ cần anh.”
“Đơn vị cần anh.”
“Ai cũng được anh đặt trước em.”
“Bởi anh tin rằng cho dù anh về muộn đến đâu, em vẫn sẽ bật đèn.”
“Vẫn hâm nóng cơm.”
“Vẫn hỏi anh có mệt không.”
“Anh chưa bao giờ nghĩ chiếc đèn đó cũng có ngày tắt.”
Mắt Lục Kỳ Phong đỏ lên.
Tôi chưa từng nhìn thấy anh như thế.
Ngay cả ngày bố anh mất, anh cũng chỉ đứng trước linh đường suốt một đêm, không rơi một giọt nước mắt.
Anh khàn giọng hỏi:
“Anh còn sửa được không?”
Tôi nhìn người đàn ông mình từng yêu hơn cả chính bản thân.
Có một khoảnh khắc, trái tim tôi vẫn đau.
Nhưng tôi không còn muốn quay lại nữa.
“Có thể.”
Trong mắt anh lập tức lóe lên ánh sáng.
Tôi nói tiếp:
“Nhưng không phải sửa cuộc hôn nhân này.”
“Mà là sửa anh.”
“Sau này nếu anh gặp một người khác, đừng để cô ấy phải sống giống em.”
Ánh sáng vừa hiện trong mắt anh hoàn toàn tắt đi.
Sáng hôm sau, tôi rời đi.
Không có cảnh ôm nhau ở sân ga.
Không có lời hứa chờ đợi.
Lục Kỳ Phong vẫn đến.
Anh đứng cách tôi vài mét.
Khi loa thông báo vang lên, tôi kéo vali chuẩn bị lên xe.
Anh bất chợt gọi:
“Ninh Sương.”
Tôi quay đầu.
Anh đứng thẳng người.
Giống hệt lần đầu tôi gặp anh.
Khi ấy anh vừa hoàn thành huấn luyện, bộ quân phục thấm đẫm mồ hôi, ánh mắt lạnh lùng.
Tôi chủ động chạy đến hỏi:
“Đồng chí, có thể cho tôi phỏng vấn không?”
Anh đáp:
“Không.”
Tôi vẫn cứ đi theo.
Về sau chính người đàn ông ấy đứng dưới nhà tôi suốt ba đêm để cầu hôn.
Anh từng yêu tôi.
Tôi chưa bao giờ phủ nhận điều đó.
Chỉ là tình yêu cũng có lúc bị tiêu hao.
Lục Kỳ Phong nhìn tôi.
“Anh sẽ ký.”
Tôi gật đầu.
“Cảm ơn.”
“Nhưng anh vẫn muốn hỏi.”
“Ừ?”
“Một năm sau…”
Anh khựng lại.
“Nếu anh thay đổi…”
Tôi mỉm cười.
“Đừng chờ em.”
Gió lướt qua sân ga.
Tôi nói:
“Anh đâu thích chờ.”
Sắc mặt anh trắng bệch.
Tôi xoay người bước lên xe.
Lần này, người đứng lại phía sau là anh.
Ba ngày sau, tôi nhận được ảnh đơn ly hôn đã ký.
Không một lời nhắn.
Tôi nhìn rất lâu rồi gửi cho luật sư.
Cũng ngay ngày hôm ấy, tôi nghe được một tin khác.
Tô Vãn bị đình chỉ công tác để điều tra.
Không phải do Lục Kỳ Phong xử lý nội bộ.
Mà bởi báo cáo liên lạc trong ngày xảy ra giao tranh đã được bộ phận giám sát độc lập kiểm tra lại.
Việc cô ta tự ý xác nhận người cầu cứu đã an toàn là hành vi vi phạm nghiêm trọng quy trình thông tin chiến trường.
Ngoài ra, cuộc điều tra còn phát hiện cô ta từng sửa hai mục trong báo cáo tác chiến nhằm che giấu sai sót.
Lần này không ai có thể cứu cô ta.
Nghe nói mẹ cô ta đã tìm đến nhà họ Lục.
Khóc lóc cầu xin Lục Kỳ Phong nể tình nghĩa của bố cô ta.
Anh chỉ nói một câu:
“Chính vì nhớ ơn chú Tô, tôi mới càng không thể để con gái ông ấy tiếp tục mắc sai lầm.”
Sau đó anh giao nộp toàn bộ tài liệu.
Tô Vãn bị điều khỏi đơn vị tác chiến.
Kỷ luật được ghi vào hồ sơ.
Con đường cô ta từng mong muốn gần như đã chấm dứt.
Một tháng sau, Tô Vãn gọi cho tôi.
Ban đầu tôi không muốn nghe.
Nhưng cô ta gọi liên tục ba lần.
Cuối cùng tôi vẫn bắt máy.
Giọng Tô Vãn khàn khàn.
“Chị hài lòng chưa?”
Tôi thấy buồn cười.
“Hài lòng chuyện gì?”
“Em bị đuổi khỏi đội.”
“Anh Kỳ Phong cũng không gặp em nữa.”
“Không phải chị muốn như thế sao?”
Tôi im lặng hai giây.
“Tô Vãn.”
“Cô vẫn chưa hiểu à?”
“Cô bị xử lý không phải vì tôi.”
“Là bởi chính cô đã vi phạm quy định.”
“Nhưng nếu chị không…”
“Không có nếu.”
Tôi cắt ngang.
“Cô có thể thích Lục Kỳ Phong.”
“Có thể gọi anh ấy là anh Kỳ Phong.”
“Có thể giả vờ yếu đuối trước mặt anh ấy.”
“Đó là vấn đề đạo đức.”
“Tôi có thể coi thường cô, nhưng chưa chắc tôi có thể làm gì cô.”
“Nhưng cô không được dùng mạng người khác làm công cụ.”
Đầu dây bên kia im lặng.
Tôi nói:
“Hôm đó cô biết tôi đang ở khu vực nguy hiểm.”
“Cô vẫn nói tôi an toàn.”
“Cô đang lấy mạng tôi ra đánh cược.”
“Chỉ bởi cô muốn chứng minh rằng anh ấy sẽ ưu tiên cô.”
Giọng Tô Vãn run rẩy.
“Em không nghĩ chuyện lại nghiêm trọng như vậy.”
“Vì thế cô không thích hợp với vị trí đó.”
Tôi cúp máy.
Sau đó chặn số cô ta.
Cuộc sống ở biên giới bận rộn hơn tôi từng nghĩ.
Ngày nào cũng có vô số công việc.
Tôi đi theo đội y tế vào thôn.
Theo đoàn cứu trợ vượt núi.
Có những đêm gần nửa đêm nhận tin sạt lở, tôi phải lập tức lên xe.
Nhưng kỳ lạ là tôi lại ngủ ngon hơn trước.
Không phải đợi tiếng chuông cửa.
Không cần nhìn đồng hồ.
Không phải đoán xem ai đang được đặt ở vị trí quan trọng hơn mình.
Sau hai tháng, tôi tăng được 2 cân.
Mẹ gọi video, nhìn tôi rồi cười đến cong cả mắt.
“Cuối cùng cũng có thêm chút thịt rồi.”
Tôi cười.
“Đồ ăn ở đây ngon.”
“Không phải.”
Mẹ nói.
“Là lòng con nhẹ đi.”
Tôi im lặng một lúc rồi gật đầu.
“Vâng.”
Lòng nhẹ.
Hóa ra cảm giác này lại tốt như vậy.
Nửa năm sau, thủ tục ly hôn hoàn tất.
Giấy chứng nhận được gửi đến trạm.
Tôi mở phong bì vào một buổi chiều đầy nắng.
Không khóc.
Cũng không đau như mình từng tưởng.
Chỉ nhìn hai chữ trên tờ giấy thật lâu.
Rồi cất nó vào ngăn kéo.
Buổi tối, đồng nghiệp kéo tôi đi ăn mừng vì bài phóng sự vừa giành giải.
Giữa bữa ăn, trưởng trạm nâng cốc trà.
“Ninh Sương, năm nay làm tốt lắm.”
“Có muốn ở lại thêm không?”
Tôi cười.
“Để em suy nghĩ đã.”
Đúng lúc đó, điện thoại rung lên.
Một tin nhắn từ Lục Kỳ Phong.
Suốt nửa năm, anh chưa từng nhắn riêng cho tôi.
Chỉ vỏn vẹn một câu.
“Chúc mừng em đoạt giải.”
Tôi trả lời:
“Cảm ơn.”
Không lâu sau, anh gửi thêm:
“Vết thương ở tay còn đau không?”
Tôi nhìn xuống cánh tay.
Vết sẹo đã nhạt đi.
“Không.”
Bên kia im lặng rất lâu.
Cuối cùng chỉ đáp:
“Vậy thì tốt.”
Tôi đặt điện thoại xuống.
Đồng nghiệp ngồi bên cạnh hỏi:
“Người yêu à?”
“Chồng cũ.”
Cô ấy suýt sặc.
“Cô còn có thể nói bình thản thế sao?”
“Tại sao không?”
“Không đau à?”
Tôi suy nghĩ một lát.
“Đã từng.”
“Bây giờ thì hết rồi.”
Một năm trôi qua nhanh hơn tôi nghĩ.
Trung tâm muốn đề bạt tôi làm trưởng nhóm nội dung khu vực.
Tôi đồng ý.
Không trở lại thành phố cũ.
Đến ngày bàn giao căn nhà quân khu, tôi nhờ mẹ đến lấy nốt những đồ còn lại.
Nhưng Lục Kỳ Phong lại chủ động gọi.
“Em không về sao?”
“Không.”
“Đồ của em vẫn còn nhiều.”
“Những thứ cần dùng em đã mang đi rồi.”
“Còn ảnh.”
“Tùy anh xử lý.”
“Chiếc chuông cửa cũ?”
Tôi khựng lại.
“Vứt đi.”
Đầu bên kia im lặng.
“Ninh Sương.”
“Ừ?”
“Anh vẫn chưa vứt.”
Tôi nhìn dãy núi ngoài cửa sổ.
“Đó là việc của anh.”
Ba tháng sau, tôi mới tình cờ nghe một đồng nghiệp cũ kể.
Lục Kỳ Phong đã từ chối được đề bạt.
Anh xin chuyển sang phụ trách huấn luyện tân binh và xây dựng lại quy trình liên lạc khẩn cấp giữa lực lượng tác chiến với thân nhân, phóng viên và đội cứu trợ.
Quy định mới rất đơn giản.
Mọi tín hiệu cầu cứu được đưa vào hệ thống đều phải có người xác nhận đã tiếp nhận.
Không ai được phép tự ý đánh dấu “an toàn” thay cho người phát tín hiệu.
Trong buổi đào tạo đầu tiên, Lục Kỳ Phong nói:
“Trên chiến trường, một cuộc gọi có thể chỉ kéo dài vài giây.”
“Nhưng vài giây đó có thể là toàn bộ hy vọng của một người.”
Đồng nghiệp kể xong còn cảm thán:
“Đội trưởng Lục thay đổi nhiều thật.”
Tôi chỉ cười.
“Vậy là tốt.”
“Cô không tiếc sao?”
“Không.”
“Anh ấy hình như vẫn còn độc thân.”
Tôi nhìn cô ấy.
“Liên quan gì đến tôi?”
Cô ấy lập tức im lặng.
Hai năm sau, tôi trở lại thành phố để tham dự lễ trao giải báo chí.
Buổi lễ được tổ chức trong hội trường lớn của quân khu.
Sau khi nhận giải, tôi vừa bước xuống sân khấu đã nhìn thấy Lục Kỳ Phong.
Anh ngồi ở hàng ghế thứ ba.
Hai năm không gặp.
Anh gầy đi một chút.
Vẫn là quân phục ấy.
Trên vai áo đã có thêm cấp hiệu.
Chúng tôi nhìn nhau vài giây.
Anh đứng dậy.
Tôi bước về phía anh.
“Lâu rồi không gặp.”
“Lâu rồi không gặp.”
Anh nhìn huy chương trong tay tôi.
“Chúc mừng.”
“Cảm ơn.”
Sau đó cả hai đều không biết nói gì.
Cuối cùng anh hỏi:
“Ở lại mấy ngày?”
“Ba ngày.”
“Có thời gian ăn một bữa không?”
Tôi nhìn anh.
Không còn hồi hộp.
Không còn chua xót.
Cũng chẳng còn mong chờ.
Chỉ như đang gặp lại một người bạn cũ.
“Được.”
Bữa ăn diễn ra tại quán mì ngày trước chúng tôi thường ghé.
Ông chủ vẫn nhận ra anh.
“Đội trưởng Lục, lâu lắm rồi không dẫn vợ…”
Nói được nửa câu, ông ấy dường như chợt hiểu ra, lập tức ngậm miệng.
Tôi cười.
“Không sao.”
Lục Kỳ Phong gọi món.
Anh vẫn nhớ tôi không ăn rau mùi.
Nhưng khi bát mì được mang ra, tôi tự gắp một ít rau mùi bỏ vào bát.
Anh sững người.
“Em ăn rau mùi rồi?”
“Ừ.”
“Từ khi nào?”
“Năm ngoái.”
Thật ra khẩu vị của một người cũng có thể thay đổi.
Anh nhìn bát mì.
Rất lâu vẫn không lên tiếng.
Gần ăn xong, anh lấy từ túi áo ra một món đồ nhỏ.
Chiếc chuông cửa cũ.
Tôi sững lại.
“Anh mang theo nó?”
“Không.”
Anh khẽ cười.
“Hôm nay biết em đến nên mới mang.”
Anh đặt nó lên bàn.
“Anh sửa rồi.”
“Tại sao?”
“Hôm trước em bảo vứt.”
“Nhưng anh không nỡ.”
Tôi nhìn chiếc chuông.
Bề mặt cũ kỹ đã được lau sạch.
Anh nói:
“Ninh Sương.”
“Sau khi em đi, anh mới hiểu căn nhà có thể yên tĩnh đến mức nào.”
“Không còn người bật đèn.”
“Không có thức ăn.”
“Không có tiếng máy sấy tóc.”
“Không còn người nằm trên sofa chờ.”
“Ban đầu anh nghĩ chỉ là chưa quen.”
“Sau đó anh mới hiểu…”
Anh ngừng lại.
“Không phải căn nhà thiếu đi một người.”
“Mà là anh đã đánh mất một người.”
Tôi không nói gì.
“Anh từng nghĩ mình hoàn thành nhiệm vụ tốt, làm đội trưởng tốt, không mắc phải sai lầm nguyên tắc lớn thì đã có thể xem là một người chồng tốt.”
“Sau này anh mới hiểu hôn nhân không phải huân chương.”
“Không phải đạt tiêu chuẩn một lần rồi có thể mang nó cả đời.”
Anh nhìn tôi.
“Anh xin lỗi.”
Hai năm.
Cuối cùng tôi cũng nghe được câu xin lỗi không có Tô Vãn đi kèm.
Không có giải thích.
Cũng không có lý do.
Chỉ đơn giản là xin lỗi.
Tôi cười.
“Em nhận.”
Đôi mắt anh hơi đỏ.
“Chỉ vậy thôi sao?”
“Ừ.”
“Em không muốn mắng anh?”
“Không.”
“Không muốn hỏi gì à?”
“Không.”
Anh cúi đầu cười khổ.
“Ninh Sương.”
“Em thật sự không còn yêu anh nữa.”
Tôi suy nghĩ một lúc.
“Đúng.”
Anh nhắm mắt.
Một lúc sau mới gật đầu.
“Anh biết rồi.”
Rời khỏi quán mì, trời bắt đầu đổ mưa.
Lục Kỳ Phong mở ô.
Theo thói quen, anh nghiêng gần như toàn bộ chiếc ô về phía tôi.
Nửa vai anh nhanh chóng ướt.
Ngày trước tôi chắc chắn sẽ kéo chiếc ô lại.
Lần này tôi chỉ bước sang một chút để cả hai cùng đứng dưới tán ô.
Không chăm sóc quá mức.
Cũng không cố ý tạo khoảng cách.
Đến ngã tư, xe của khách sạn đã chờ sẵn.
Tôi quay lại.
“Em đi đây.”
Anh gật đầu.
“Ninh Sương.”
“Ừ?”
“Lần này anh không đợi em.”
Tôi cười.
“Tốt.”
Anh cũng cười.
“Nhưng nếu sau này em cần giúp…”
Tôi ngắt lời:
“Em sẽ gọi người có thể nghe máy.”
Anh đứng sững.
Tôi không muốn trả thù.
Nhưng có những lời, chỉ khi người từng nói chúng trải qua cảm giác tương tự, mới hiểu được nó đau đến đâu.
Tôi lên xe.
Qua cửa kính, tôi thấy Lục Kỳ Phong vẫn đứng dưới mưa.
Chiếc ô trong tay anh hơi nghiêng.
Đèn đường phía sau cũng vừa sáng.
Tôi bất chợt nhớ đến căn nhà năm ấy.
Chiếc đèn cảm ứng.
Tiếng chuông cửa.
Bát canh đã nguội.
Chiếc áo được vá bốn lần.
Cuộc gọi bị cúp.
Từng thứ từng thứ một đã từng khiến tôi đau đến mất ngủ.
Giờ nhớ lại, chúng lại giống như câu chuyện của một người khác.
Tôi lấy điện thoại ra.
Trưởng trạm gửi tin:
“Ngày mai chuyến bay 10 giờ, đừng ngủ quên.”
Tôi trả lời:
“Biết rồi.”
Một phóng viên trẻ trong nhóm lại nhắn:
“Chị Ninh, bên kia vừa có tin về đợt cứu trợ mới, chị xem khi nào rảnh nhé.”
Tôi đáp:
“Mai về xử lý.”
Điện thoại không ngừng sáng lên.
Có rất nhiều người đang chờ tôi.
Có rất nhiều việc đang đợi tôi.
Nhưng lần này không phải chờ một người trở về.
Mà là cuộc đời đang chờ tôi bước tiếp.
Tôi tựa đầu vào ghế.
Ngoài cửa kính, những ngọn đèn thành phố dần lùi lại phía sau.
Điện thoại bất chợt rung thêm một lần.
Lục Kỳ Phong gửi tin nhắn.
“Đến khách sạn báo bình an.”
Tôi nhìn vài giây.
Sau đó tắt màn hình.
Không trả lời.
Không phải tôi cố tình trừng phạt anh.
Chỉ là tôi chợt nhớ ra.
Tôi đã không còn nghĩa vụ phải báo bình an với anh nữa.
Nửa tiếng sau, xe đến khách sạn.
Tôi kéo vali xuống.
Nhân viên lễ tân mỉm cười hỏi:
“Chị Ninh phải không?”
“Vâng.”
“Phòng của chị đã chuẩn bị xong.”
Tôi kéo vali bước vào sảnh.
Cửa kính cảm ứng tự động mở ra.
Ánh đèn bên trong sáng rực.
Không cần ai bật hộ.
Không cần ai chờ đợi.
Tôi đi được vài bước thì bất chợt bật cười.
Năm đó, sau khi Lục Kỳ Phong cúp cuộc gọi cầu cứu của tôi, tôi từng nghĩ thứ mình đánh mất là một người chồng.
Sau này tôi mới hiểu.
Không phải.
Tôi chỉ đánh mất thói quen đặt anh trước bản thân mình.
Đổi lại, tôi tìm lại được Ninh Sương của rất nhiều năm trước.
Người từng một mình mang máy ảnh chạy qua vùng lũ.
Từng trèo lên xe cứu trợ lúc 3 giờ sáng.
Từng dám tranh một suất phóng viên thường trú với hơn 20 người.
Từng có vô số ước mơ trước khi học cách đứng trước một cánh cửa chờ chồng trở về.
Tôi mất hai năm mới tìm lại được cô ấy.
May mà vẫn còn kịp.
Sau này tôi nghe nói Lục Kỳ Phong vẫn không tái hôn.
Anh trở thành người nổi tiếng nghiêm khắc nhất với những tân binh coi thường quy trình cứu hộ.
Trong mỗi buổi huấn luyện, anh đều nhắc một câu:
“Đừng bao giờ tự cho rằng một người sẽ luôn chờ mình.”
“Trên chiến trường không có cơ hội thứ hai.”
“Trong cuộc đời cũng vậy.”
Có người hỏi tại sao anh lại nói chuyện đời tư trong giờ huấn luyện.
Anh chỉ trả lời:
“Bài học phải trả giá mới nhớ lâu.”
Còn Tô Vãn, sau khi rời đơn vị tác chiến, đã chuyển sang làm công việc hành chính.
Cô ta từng nộp đơn khiếu nại hai lần.
Cả hai lần đều bị bác.
Vài năm sau, trong một buổi họp liên ngành, chúng tôi tình cờ gặp lại nhau.
Cô ta đã không còn vẻ ngây thơ yếu đuối như ngày trước.
Nhìn thấy tôi, cô ta im lặng một lúc rồi chủ động nói:
“Chuyện năm đó, xin lỗi.”
Tôi gật đầu.
“Ừ.”
Cô ta sững người.
Có lẽ cô ta không nghĩ cuối cùng mình cũng chỉ nhận lại một tiếng “Ừ”.
Giống như ngày trước tôi từng nói với Lục Kỳ Phong.
Nhưng hóa ra khi thật sự không còn quan tâm, một tiếng ấy không phải sự lạnh lùng.
Nó chỉ có nghĩa:
Tôi đã nghe.
Và chuyện của cô không còn quan trọng với tôi nữa.
Tôi bước qua cô ta.
Phía trước có người gọi:
“Trưởng ban Ninh, bên này!”
Tôi giơ tay.
“Đến ngay.”
Ánh nắng phủ xuống những bậc thềm.
Tôi bước nhanh về phía trước.
Không quay đầu.
Có người từng nói, con người không thể mãi đứng trước một cánh cửa vĩnh viễn không mở.
Mẹ tôi nói đúng.
Chỉ là khi ấy tôi chưa hiểu.
Sau này tôi mới nhận ra, rời khỏi cánh cửa đó cũng chẳng đáng sợ.
Bởi thế giới phía sau lưng tôi rộng lớn hơn một căn nhà rất nhiều.
Và người thật sự yêu tôi nhất, người tôi tuyệt đối không nên bỏ quên nhất, từ đầu đến cuối vẫn luôn ở đây.
Chính là tôi.
Còn Lục Kỳ Phong?
Anh từng muốn tôi biết ngay khi anh trở về.
Nhưng cuối cùng, người trở về quá muộn lại là anh.
Còn tôi đã đi rồi.
